Sale

Technical

Phân loại cấu tạo van giảm áp

Van giảm áp hay còn gọi là van điều áp hoạt động với mục đích giữ áp suất đầu ra của van ở một giá trị được thiết lập sẵn thấp hơn áp suất đầu vào. Van giảm áp khác với các loại van an toàn hay van tràn ở chổ thiết lập áp suất đầu ra của van.
Có 2 dạng van giảm áp:

Dạng 1: Thiết lập quan hệ áp suất đầu vào và đầu ra của van P1 và P2

Cấu tạo của van giảm áp loại này gồm các bộ phận điều khiển dạng ống trượt 1, và tiếp đó lò xo 2 sẽ đẩy ống trượt này vào đế, lực ép của lò xo lúc này được điều chỉnh bỡi vít xoay 3. Đầu vào cửa 4 của vỏ van nối với ống dẫn khí áp suất cao, đầu ra cửa 5 của van nối với ống dẫn khí áp suất thấp. Vị trí của van lúc đầu là ở trạng thái bị ép vào đế đỡ, vì thế của vào và cửa ra của van không được thông nhau. Nếu như áp suất đầu vào P1 càng tăng thì khoảng cách thông nhau giữa 2 cửa sẽ càng lớn và khi đó áp suất P2 cũng sẽ càng lớn (P1 & P2 tỉ lệ thuận với nhau).

van giảm ap

Cấu tạo van giảm áp

Đây là biểu thức thể hiện quan hệ giữa áp suất đầu vào và đầu ra của van, ở đây Pnp được xem là lực lò xo ban đầu và C là độ cứng của lò xo:

cong-suat-van-giam-ap

Dạng 2: Giữ cố định áp suất P2 tại cửa ra của van – hay còn gọi là van ổn áp
Đây là dạng van giảm áp hoạt động với nguyên tắc giữ cố định áp suất tại cửa ra của van mà không bị phụ thuộc vào độ biến động áp suất của dòng khí vào hoặc ra khỏi van.

Van giảm áp dạng 2 này được phân ra làm 2 loại: van tác động trực tiếp và van tác động gián tiếp.

Van tác động trực tiếp

van-tac-dong-truc-tiep

1: Vỏ van

2: phần tử điều khiển

3: lò xo

4: vít điều chỉnh

5: rãnh nối

6: thùng chứa.
Van ở trạng thái mở hoàn toàn tại vị trí ban đầu, lúc này vít 4 sẽ thiết lập độ rộng của cửa ra. Tác dụng của loại van này là hầu như giữ không đổi giá trị áp suất P2 tại cửa ra.

Van giảm áp tác động gián tiếp.

Cấu tạo của van: 1 – ống trượt có dạng trụ được xem là phần tử điều khiển chính có kích thước khác nhau theo từng đoạn, 2 – lò xo cố định với độ cứng nhỏ, 3 – vít xoay để điều chỉnh lực nén của lò xo ở van phụ (4). 5 – là phần tử điều khiển phụ dạng van bi trượt. Số 7 & 8 là các rãnh nối khoang của vỏ van với cửa ra của van. Ống trượt 1 có rãnh 9 nối liền khoang 6 với khoang 8.

van-giam-ap-tac-dong-gian-tiep

Cấu tạo van giảm áp

Lò xo 4 có chức năng thiết lập một áp suất lớn hơn áp suất đầu vào của van  P1 , khi đó ống trượt 1 sẽ ở vị trí ban đầu. Nếu như khoang 6, 7 và 8 có cùng áp suất là  P1, khoang 10 nối với khoang 11, thì dòng khí chảy tự do qua van (lúc này tính chất giảm áp – ổn áp không có tác dụng).

Trường hợp thiết lập giá trị P2>P1 cho lò xo 4, van phụ dạng bi trượt sẽ mở và dòng khí từ khoang 6 thoát ra thùng chứa một lượng nhỏ, tạo thành dòng chảy qua rãnh 9, khi đó trở lực thủy lực bị mất đi. Kết quả là áp suất ở khoang 6 tụt và ống trượt chính bị nâng lên, làm giảm tiết diện thông nhau giữa khoang 10 và 11. Vì thế mà áp suất trong khoang 11, 8 và 7 giảm xuống, tác động vào ống trượt và làm tăng tiết diện thông nhau giữa khoang 10 và 11. Quá trình đó được lặp đi lặp lại, làm cho ống trượt thực hiện dao động quanh vị trí thiết lập. Mọi sự thay đổi áp suất ở cửa vào hoặc cửa ra của van đều kéo theo sự di chuyển của ống trượt. Áp suất đầu ra được giữ ở mức cố định.
Trong van dạng này khoang 7 là một rãnh hẹp, nối khoang với cửa ra có tác dụng như một thiết bị chống rung và làm giảm dao động.

Tin tức liên quan

Thông tin JPS

Tin tức mới nhất